http://bomonlicTrang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Latest topics
» Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Ấn Độ (1945-1950)
Tue Jul 13, 2010 11:14 am by

» Sự thành lập Tổ chức ASEAN và quan hệ Việt Nam –ASEAN
Tue May 04, 2010 10:43 pm by

» Bốn “con Rồng” nhỏ xuất hiện ở châu Á từ sau chiến tranh thứ hai (1945)
Tue May 04, 2010 10:41 pm by

» Tình hình khu vực Trung Đông từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến 1991
Tue May 04, 2010 10:40 pm by

» Vì sao thực dân Anh buộc phải công nhận nền độc lập hoàn toàn của Ên Độ. Những thành tựu nổi bật về kinh tế xã hội và ngoại giao của nước Cộng hòa Ên Độ từ năm 1950 đến năm 1991.
Tue May 04, 2010 10:39 pm by

» Nguyên nhân dẫn đến sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu? Nêu những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp?
Tue May 04, 2010 10:36 pm by

» ? Công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 – 1991) đã diễn ra như thế nào? Những nguyên nhân nào dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở Liên Xô?
Tue May 04, 2010 10:34 pm by

» Góp ý kiến
Sun May 02, 2010 7:30 pm by

» Trải qua 20 năm tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc nước ta
Sun Apr 25, 2010 8:31 pm by

» Những thắng lợi về quân sự, chính trị và kinh tế của quân và dân hai miền Nam – Bắc trong thời kì chống “Việt Nam hoá” chiến tranh từ 1969 đến 1973.
Sun Apr 25, 2010 8:29 pm by

» Nội dung của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960)tại Hà Nội .
Sat Apr 17, 2010 9:03 pm by

» Trình bày điều kiện bùng nổ ,diễn biến , kết quả và ý nghĩa của Phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960) ?
Sat Apr 17, 2010 9:02 pm by

» Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp
Sat Apr 17, 2010 9:01 pm by

» Chiến dịch lịch sử Điên Biên Phủ 1954.
Sat Apr 17, 2010 9:01 pm by

» Chiến dịch Biên Giới Thu-đông 1950
Sat Apr 17, 2010 8:59 pm by

November 2017
SunMonTueWedThuFriSat
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  
CalendarCalendar
Đồng Hồ

More Goodies @ NackVision
Top posters
nguyentoan (143)
 
fudo85 (45)
 
linhlinh_92 (32)
 
xuanhoa20 (4)
 
Tran Minh Huy (1)
 
Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 68 người, vào ngày Tue Aug 08, 2017 2:40 pm
Statistics
Diễn Đàn hiện có 7 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: nhocconluoihoc92

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 225 in 207 subjects

Share | 
 

 GIÁO DỤC VIỆT NAM DƯỚI THỜI LÊ SƠ (1428 -1527)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nguyentoan
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 143
Points : 417
Join date : 20/03/2010
Age : 29
Đến từ : Trường Đại học Cần Thơ

Bài gửiTiêu đề: GIÁO DỤC VIỆT NAM DƯỚI THỜI LÊ SƠ (1428 -1527)   Tue Mar 30, 2010 1:32 pm

I. KHÁI QUÁT.

Sau khi chiến thắng quân Minh, Lê Thái Tổ và các triều đại Lê sơ bắt tay vào xây dựng một đất nước độc lập trên cơ sở chế độ phong kiến Trung ương tập quyền. Sự phục hồi và phát triển nhanh chóng nền kinh tế - xã hội là bối cảnh mới mẻ, vừa là tiền đề, vừa là nhu cầu đòi hỏi xây dựng một nền giáo dục dân tộc mới, biến đổi cả về mặt tổ chức lẫn tư tưởng giáo dục.

II. GIÁO DỤC VIỆT NAM DƯỚI THỜI LÊ SƠ.

1.Hệ thống Giáo Dục, việc học, việc thi cử thời Lê Sơ

Về hệ thống trường lớp :

Năm 1429, Lê Thái Tổ khôi phục lại Quốc Tử Giám, hạ lệnh cho hoàng tử và các con quan lại trong triều từ 9 tuổi trở lên đến học.
Nhưng phải tới năm 1483, Lê Thánh Tông mới mở rộng Quốc Tử Giám thành nhà Thái học, xây dựng thành một trường rộng lớn bao gồm giảng đường lớn là Minh Luân đường, hai giảng đường Đông, Tây, bí thư khố (kho sách). Lại có các nhà ở nội trú cho 300 xá sinh ăn học trong trường. Phía ngoài cùng có hai dãy nhà bia để ghi tên các nhà tân khoa tiến sĩ.
Về chế độ, trừ hoàng tử có chế độ học tập riêng, còn các giám sinh qua thi cử, sát hạch, được tuyển chọn vào học, chia ra 3 loại học bổng khác nhau :
- Thượng xá sinh : Thi trúng tam trường, học bổng được cấp 1 quan tiền một tháng.
- Trung xá sinh : Thi trúng nhị trường, học bổng 9 tiền một tháng.
- Hạ xá sinh : Thi trúng một trường, học bổng 8 tiền 1 tháng.
Con em quân, dân học giỏi được tuyển vào học, nhưng nghe giảng riêng ở tăng quảng đường. Các tăng quảng sinh không được cấp học bổng và phải ở ngoại trú.
Một ưu đãi khác là các con quan lại hỏng thi, không có khả năng học ở Thái học Viện thì được đến đọc sách ở các quán, cục như Sùng lâm quán, Nho lâm quán, Tú lâm cục. Ai không thích học văn, có thể học võ nghệ ở Vệ Kim Ngô.
Ở các địa phương, các trường công được mở đến các lộ, phủ. Đội ngũ học quan ở thái học viện bao gồm các Tế Tửu, Tư nghiệp, giáo thụ, bác sĩ năm kinh. Các học quan được tuyển chọn không vụ vào bằng cấp mà chủ yếu là do năng lực, tuổi phải từ 35 trở lên. Ở địa phương, mỗi lộ phủ có một trường công do một học quan huấn đạo, trông nom việc giảng dạy, khảo hạch để tuyển chọn học sinh vào danh sách thi Hương ( kể cả học sinh trường tư). Ngoài hệ thống trường công, ở các làng xã có các trường lớp tư thục, dân lập, do dân tự lo liệu.
Khác với trường hiện đại ngày nay, trường lớp phong kiến thời Lê Sơ có thể là ở công đường hoặc nhà riêng của học quan, thầy đồ, có thể là nhà một phú hộ, địa chủ giàu có đứng ra tổ chức. Lớp học không phân chia tuổi tác, trình độ cao thấp. Học trò có thể chỉ 6 7 tuổi, mới học vỡ lòng, có thể bắt đầu học kinh sử, cũng có người đã lớn tuổi chuẩn bị đi thi.
+ Hàng ngày học sinh đi học như sau:
Sáng sớm : đến nhà thầy giáo nộp bài rồi về ăn cơm sáng. Sau đó, trở lại lớp học liền 6 tiếng.
Học sinh học liên tục cả 7 ngày trong tuần không nghỉ. Hàng năm có 3 kì nghỉ dài ngày là Tết Đoan Ngọ (nghỉ hơn 1 tháng), Tết Cơm Mới ( tháng 10, nghỉ 1 tháng ), Tết Nguyên Đán (nghỉ 2 tháng)
Ngoài “Lễ nhập môn” hàng năm cha mẹ học sinh trả tiền học phí cho Thầy 2 lần, tổng cộng khoảng 4 quan tiền. Ngoài ra, tùy khả năng, có thêm khoản tiền tết thầy nhân các kì nghỉ để thầy về thăm nhà và các khoản bất thường do hội đồng môn thu khi gia đình thầy có công việc lớn. những con nhà nghèo túng thường không phải đóng góp gì.
Cách học thời Lê Sơ.

Việc học chữ Nho thời Lê Sơ chia thành hai bậc : Bậc tiểu học và Bậc đại học.
+ Ở bậc tiểu học : Trẻ em bắt đầu học các sách do ta soạn như : Nhất Thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, rồi đến Sơ học vấn tân , Ấu học ngũ ngôn thi. Sau đó học các sách do người trung Quốc soạn như Tam tự kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn…
Phương pháp dạy là thầy đọc trước, trò nhắc lại, Thầy kể nghĩa trước, trò bắt chước kể lại một cách máy móc, mặc dù hầu như không hiểu gì. Về nhà phải học thuộc lòng để hôm sau đọc lại, thuộc làu bàu sẽ được điểm cao (ưu,bình ), ngắc ngứ thì điểm trung bình ( thứ), không thuộc sẽ bị phê điểm kém (liệt). Lười học không thuộc bài…sẽ bị xử phạt bằng roi mây, chui gầm giường, quỳ góc nhà, thậm chí chui qua háng trưởng tràng. Chữ Hán là chữ tượng hình học rất khó. Bởi vậy, trẻ em phải học viết rất công phu, không chỉ ở bậc tiểu học mà còn kéo dài nhiều năm sau, đủ các kiểu “chân, thảo, lệ, triện”.
+ Ở bậc đại học : Cách học có phát huy tính chủ động của người học hơn, học sinh không phải đi học thường xuyên hàng ngày nữa mà định lệ mỗi tuần vài ba buổi. Đến lớp, thầy sẽ giảng sách Ngũ kinh, Tứ thư, là những sách kinh điển của Thánh Hiền.
Ngũ kinh gồm các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân, Thu. Còn Tứ thư là các sách Đại học, Luận ngữ, Trung dung và Mạnh tử. Nội dung tư tưởng của sách rất sâu rộng, mang tính chất triết học, đạo đức học, văn học …, như đã đề cập ở phần nội dung . Ở nhà, học sinh phải “Nấu sử sôi kinh” sao cho thuộc như cháo. Lại phải đọc nhiều sách giải nghĩa, ghi nhớ các điển cố, có khi dài gấp mấy lần nguyên bản. Lại phải học phép làm câu đối, thơ phú, kinh nghĩa, văn sách sao cho đúng phép, đúng luật. Nhiều nho sĩ còn được tham khảo các sách của bách gia chư tử, Bắc sử, Nam sử… nữa. Việc tự học công phu như vậy kéo dài hàng chục năm mới đủ sức thi Hương. Có thể nói, ở giai đoạn này người ta tự học là chính.
Ở bậc đại học, hàng tháng thường có hai cuộc bình văn vào ngày sóc và ngày vọng (mồng 1 và ngày rằm hàng tháng) hoặc một buổi vào ngày cuối tháng. Đầu tháng, quan Đốc học ra đề văn yết tại dinh, sĩ tử đến chép đề mang về nhà làm, nữa tháng sau đem nộp. Cuối tháng quan Đốc học và các vị khoa bảng họp chấm bài, chọn ra một số bài hay nhất để tổ chức buổi bình văn. Trong ngày đó, sĩ tử khắp nơi lũ lượt kéo về tham dự. Ai có bài được bình sẽ rất vinh dự, hãnh diện vói bè bạn, xóm làng.
Mỗi năm, quan Đốc học tổ chức một kì khảo khóa, ai đổ đầu được gọi là “Thầy Khóa” và được miễn các việc phu đài, tạp dịch. Trước kì thi hương 4,5 tháng, có một kì tỉnh hạch để chọn danh sách gửi về bộ Lễ phân phối vào các trường thi.
Các tổ chức thi cử và các khoa thi :
+ Hạnh kiểm người di thi.
Các triều Lê sơ rất coi trọng việc tổ chức các kì thi để tuyển chọn nhân tài ra làm quan. Muốn được dự thi phải có hạnh kiểm tốt. Thí dụ : năm 1462, Lê Thánh Tông hạ lệnh cho các xã quan phải kiểm tra hạnh kiểm người đi thi Hương. Nếu là con cháu của những người mang tiếng xấu (bất hiếu, bất mục, lọan luân, điêu toa…) hay con cái những người làm nghề hát xướng thì không được đi thi. Con em những người nghịch đãng, ngụy quan đều bị loại.
+Các khoa thi
Thời Lí - Trần - Hồ, các khoa thi đã được tổ chức, song chưa nhiều và đều đặn. Phải từ nhà Lê, thi cử mới đi vào quy củ, nề nếp. Nhà Lê cứ 3 năm tổ chức một kì thi Hương. Năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội.
Người đỗ thi Hương chia thành hai hạng, hạng cao là Hương cống, hạng thấp là sinh đồ, người đỗ đầu gọi là Giải nguyên.
Thi Hội được tổ chức cho những người đã đổ thi Hương, để lấy học vị cấp nhà nước. Ai đỗ thi Hội phải qua kì thi Đình, tổ chức ở sân rồng do vua ra đề để lấy từ tiến sĩ trở lên.
Thời Lê, bắt đầu từ năm 1448, Tiến sĩ được chia thành ba loại :
- Đệ nhất giáp: Tiến sĩ cập đệ ( 3 người đổ đầu gọi là tam khôi ) :
• Trạng nguyên
• Bảng nhãn
• Thám Hoa
- Đệ nhị giáp : Tiến sĩ xuất thân ( Hoàng Giáp).
- Đệ tam giáp : Đồng Tiến Sĩ xuất thân.
Các tiến sĩ đời Lê được nhà vua cho dự lễ xướng danh ban yến và tổ chức vinh quy bái tổ. Tên tuổi được khắc vào bia đá đặt ở Văn Miếu. Ngoài các kì thi chính, còn có các kì thi bất thường như các khoa Minh Kinh (1429), Hoành Từ (1431) các kì thi lại viên ( tuyển người viết chữ đẹp và tính tóan giỏi ), thi võ….
Cả thi Hương và thi Hội, các sĩ tử phải trải qua 4 kì (gọi là 4 trường ). Các bài thi gồm các thể loại :
• Kinh nghĩa ( trường 1)
• Chiếu – chế - biểu ( trường 2)
• Thơ phú ( trường 3)
• Văn sách ( trường 4 )
Thứ tự này cũng có thể thay đổi giữa các trường qua các triều đại. Ai được vào thi Đình sẽ phải làm một bài thi đối sách do chính vua ra đề. Thường có hai phần : cổ văn và kim văn. Về kim văn, vua thường lấy những vấn đề nan giải của đương triều để hỏi các thí sinh về cách giải quyết ( về thiên tai, về vấn đề kinh tế, chính trị, thời sự….)
+ Số người đỗ các khoa
Thời kì Lê Sơ (1428 -1527), trãi qua 100 năm với 9 đời vua, số các khoa thi và số người đỗ có thể tóm tắt như sau :
- Tổng số các khoa thi Hội : 26
- Số người đỗ :
• Trạng nguyên : 21
• Bảng nhãn : 38
• Thám hoa :21
• Tiến sĩ :992
Riêng thời Lê Thánh Tông (1460-1497) trong 37 năm trị vì, mở được 12 khoa thi Hội, số đỗ Trạng nguyên là 10 người.
Điều đáng chú ý nữa là việc xây dựng các trường thi, tổ chức các hội đồng coi thi và chấm thi ở Triều Lê làm rất nghiêm túc, nghiêm mật và quy mô.
Trường thi có rào tre nhiều lớp, trong trường thi lại chia riêng các khu vực để thí sinh thi, vào sâu là 2 khu ngoại trường và nội trường – giữa các khu đều có lính canh. Vòng ngoài trường có đội quân có đủ voi, ngựa đi tuần dưới sự chỉ huy của viên tuần xước đề phòng sự gian trá và bất trắc xảy ra.
Hội đồng thi gồm có các quan lại sau :
- Đề điệu : chánh chủ khảo
- Giám thị : Phó chủ khảo
- Thu quyển : thu nhận quyển thi của thí sinh
- Di phong : làm nhiệm vụ “ rọc phách”
- Đằng lục : chép lại từng bài văn của thí sinh sang một quyển khác để giám khảo chấm.
- Đối độc : đọc lại bài đăng lục, đối chiếu với bài làm của thí sinh cho chính xác .
2. Mục đích Giáo Dục thời Lê Sơ.
Đào tạo được một đội ngũ quan lại đông đảo từ trung ương đến địa phương đến địa phương.
Nếu như các triều đại trước đây, việc tuyển chọn người ra làm quan có thể do tiến cử, nhiệm cử thì đến Lê Sơ phương thức chủ yếu là khoa cử. Bởi vậy ngay khi còn kháng chiến, Lê Lợi đã chú trọng mở mang việc học tổ chức cuộc thi ngay bên cạnh thành Đông Quan.
Đến thời Lê Thánh Tông, Ông coi việc thi cử là hàng đầu để “chọn người có học”, “chọn kẻ sĩ”. Có thể nói, từ trước đến nay, chưa có triều đại phong kiến nào lại tổ chức nhiều khoa thi như thời lê Sơ. Chỉ tính từ năm 1442 – năm bắt đầu mở khoa thi Hội đến năm 1526 tất cả có 26 khoa trong 84 năm. Trước thi Hội, thí sinh phải qua thi Hương, và sau thi Hội, ai đỗ mới được thi Đình. Làm phép tính đơn giản, trong 84 năm có gần 80 khoa thi.
Về hình thức, để tuyển chọn Nho thần, văn thần, nhà nước tổ chức thi văn (đa số là các khoa thi loại này). Để tuyển chọn người viết chữ đẹp, biết tính toán có các kì thi lại viên. Loại này chỉ khi cần mới tổ chức. ngoài ra, còn có các kì thi võ để tuyển chọn người giỏi võ kinh và võ nghệ.
Tuyển chọn được các hiền tài giúp vua trị nước
Lê Thánh Tông đã xuống chiếu khẳng định rõ: “ Muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học. Phép chọn người có học thì thi cử là đầu. Nước ta, từ khi trải qua binh lữa, nhân tài ít như lá mùa thu, tuấn sĩ thưa như sao buổi sớm. Thái Tổ ta mới dựng nước đã lập ngay trường học, nhưng lúc mới mở mang chưa đăt khoa thi.”……
Truyền bá ý thức hệ phong kiến vào trong nhân dân.
Giai cấp phong kiến Lê Sơ muốn tất cả các nho sĩ đã được theo học chữ thánh hiền không những chỉ suy nghỉ và làm theo mà còn là những người truyền bá đạo Nho cho nhân dân, là những tấm gương để mọi người bắt chước, noi theo. Nho giáo bắt rễ sâu vào tâm hồn mỗi con người, bám trụ vào mỗi tế bào xã hội gia đình, đó chính là mục đích tối cao của giai cấp phong kiến thống trị.
Bên cạnh các trường của nhà nước phong kiến tổ chức, có nhiều trường tư của dân tự tổ chức ở các làng xã. Một số con em nhân dân lao động cũng được theo học ở các trường tư thục của các thầy Đồ trong các làng xóm, thị trấn…
Với mục đích gửi con đến trường, các bậc cha mẹ một mặt cũng mong muốn con em mình cố gắng học hành, thi cử, đổ đạt làm quan để có cuộc sống vinh hoa phú quý, thoát khỏi cuộc đời nghèo khổ. Song, mục đích lớn hơn là nếu công thành danh toại sẽ trở thành hữu ích, giúp dân cứu nước ; còn nếu không thành đạt thì cũng trở nên người biết sống theo đạo lý của dân tộc, của cha ông. Đó là lối sống nhân nghĩa, biết nhớ ơn ông bà cha mẹ, biết kính trên nhường dưới, yêu làng xóm quê hương đất nước…../.




Về Đầu Trang Go down
http://bomonlichsu.turtle-forum.net
 
GIÁO DỤC VIỆT NAM DƯỚI THỜI LÊ SƠ (1428 -1527)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: LỊCH SỬ VIỆT NAM :: Lịch Sử Việt Nam Cận Đại-
Chuyển đến