http://bomonlicTrang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Latest topics
» Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Ấn Độ (1945-1950)
Tue Jul 13, 2010 11:14 am by

» Sự thành lập Tổ chức ASEAN và quan hệ Việt Nam –ASEAN
Tue May 04, 2010 10:43 pm by

» Bốn “con Rồng” nhỏ xuất hiện ở châu Á từ sau chiến tranh thứ hai (1945)
Tue May 04, 2010 10:41 pm by

» Tình hình khu vực Trung Đông từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến 1991
Tue May 04, 2010 10:40 pm by

» Vì sao thực dân Anh buộc phải công nhận nền độc lập hoàn toàn của Ên Độ. Những thành tựu nổi bật về kinh tế xã hội và ngoại giao của nước Cộng hòa Ên Độ từ năm 1950 đến năm 1991.
Tue May 04, 2010 10:39 pm by

» Nguyên nhân dẫn đến sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu? Nêu những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp?
Tue May 04, 2010 10:36 pm by

» ? Công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 – 1991) đã diễn ra như thế nào? Những nguyên nhân nào dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở Liên Xô?
Tue May 04, 2010 10:34 pm by

» Góp ý kiến
Sun May 02, 2010 7:30 pm by

» Trải qua 20 năm tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc nước ta
Sun Apr 25, 2010 8:31 pm by

» Những thắng lợi về quân sự, chính trị và kinh tế của quân và dân hai miền Nam – Bắc trong thời kì chống “Việt Nam hoá” chiến tranh từ 1969 đến 1973.
Sun Apr 25, 2010 8:29 pm by

» Nội dung của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960)tại Hà Nội .
Sat Apr 17, 2010 9:03 pm by

» Trình bày điều kiện bùng nổ ,diễn biến , kết quả và ý nghĩa của Phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960) ?
Sat Apr 17, 2010 9:02 pm by

» Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp
Sat Apr 17, 2010 9:01 pm by

» Chiến dịch lịch sử Điên Biên Phủ 1954.
Sat Apr 17, 2010 9:01 pm by

» Chiến dịch Biên Giới Thu-đông 1950
Sat Apr 17, 2010 8:59 pm by

September 2017
SunMonTueWedThuFriSat
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
CalendarCalendar
Đồng Hồ

More Goodies @ NackVision
Top posters
nguyentoan (143)
 
fudo85 (45)
 
linhlinh_92 (32)
 
xuanhoa20 (4)
 
Tran Minh Huy (1)
 
Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 68 người, vào ngày Tue Aug 08, 2017 2:40 pm
Statistics
Diễn Đàn hiện có 7 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: nhocconluoihoc92

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 225 in 207 subjects

Share | 
 

 Chuyện phố lính (tập kí nhiều tác giả)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nguyentoan
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 143
Points : 417
Join date : 20/03/2010
Age : 28
Đến từ : Trường Đại học Cần Thơ

Bài gửiTiêu đề: Chuyện phố lính (tập kí nhiều tác giả)   Mon Mar 22, 2010 3:29 pm

Tiêu đề: Chuyện phố lính (tập kí nhiều tác giả)

Biên tập:
Lê Thanh Bình (chủ biên)
Trịnh khắc Thuần, Trần Anh Tuấn, Hoàng Bồng, Nguyễn Ngọc Thỉnh

Phố Mười-phố lính tôi yêu
Một quê hương của rất nhiều quê hương
Năm xưa chia lửa chiến trường
Nay về chung phố chung phương dựng xây



LỜI NÓI ĐẦU

"Chuyện phố lính" được ra mắt bạn độc nhân kỉ niệm 20 năm Ngày thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam (6/12/1989-6/12/2009) và 65 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2009). Cuốn sách là những kỉ niệm sâu sắc một thời xông pha nơi trận mạc trong cuộc đời người lính.
Chiến tranh kết thúc, những người lính chúng tôi may mắn được trở về trong cuộc sống đời thường. Được UBND tỉnh Thanh Hóa quan tâm dành cho một khu đất ở phía đông Thành phố Thanh Hóa để xây dựng khu gia đình quân đội và được mang danh "Phố lính xứ Thanh".
Với suy nghĩ thật giản dị và tự nhiên: "Đời lính sẽ còn lại mãi mãi với thời gian, còn người lĩnh sẽ lần lượt về với cõi vĩnh hằng". Vậy họ sẽ để lại gì đây cho con cháu cùng thế hệ mai sau? Đó là lý do để "Chuyện phố lính" được đến với bạn đọc.
Sách "chuyện phố lính" chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, mong bạn đọc lượng thứ.


Anh hùng Đinh Công Chấn (trích Chân dung Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, NXB QDND-NXB Lao động, tập 2, trang 131)
Năm sinh: 1947
Quê quán: Quảng Xương - Thanh Hóa
Cấp bậc: Thiếu tá-Trung đoàn phó

Anh hùng Đinh Công Chấn sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội trưởng thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 49 vận tải Cục Hậu cần, Bộ tư lệnh đoàn 559.
Từ tháng 7 năm 1966 đến năm 1971. Đinh Công Chấn liên tục làm đường và vận tải bằng xe đạp trên tuyến đường thuộc đơn vị 559, anh vượt qua khó khăn liên tục bám đường đưa năng suất làm đường từ 25m đến 52m/ngày. Tháng 9 năm 1968, Đinh Công Chấn chuyển sang công tác vận tải, thường xuyên dẫn đầu đơn vị về năng suất. Anh đi sâu nghiên cứu cách thồ, tải từ chỗ thồ 228kg lên 350kg một chuyến. Năm 1970, Đinh Công Chấn chỉ huy trung đội đưa năng suất thồ lên 415kg/chuyến. Riêng anh, nhiều chuyến thồ đến 550kg. Trong ba năm, Đinh Công Chấn chưa hề để mất mát hư hỏng một thứ hàng gì, trên đường đi gặp khó khăn ác liệt đến đâu anh cũng kiên quyết đưa hàng đến đích, đúng thời gian qui định. Năm 1969, có lần đang chuyển hàng qua sông, thì máy bay địch đến bắn phá, thuyền đắm, Đinh Công Chấn đã nhanh chóng dìu được một người không biết bơi vào bờ, sau đó tiếp tục ngâm mình dưới nước 8h liền mò bằng được 4 khẩu súng, 1 chiếc xe đạp. Tháng 9 năm 1970, trong lúc đang chèo thuyền không, đến giữa dòng thì gặp thuyền của bạn chở đầy hàng có nguy cơ bị đắm, Đinh Công Chấn đã làm đắm thuyền mình để khỏi va vào thuyền của bạn rồi bơi ra kéo thuyền bạn vào bờ, sau đó bơi ra vớt thuyền mình lên. Trên đường vận chuyển, anh đã chỉ huy trung đội đánh biệt kích, bảo vệ hàng, riêng anh diệt được 10 tên địch.
Đồng chí được thưởng hai Huân chương Chiến công giải phóng (một hạng nhì, một hạng ba). Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Đinh Công Chấn được nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiền (thượng tá Phan Thanh)
(1950-1979)
Quê quán: Thiệu Hóa - Thanh Hóa
Cấp bậc: Thiếu úy
Chức vụ: cán bộ đồn 33 công an nhân dân vũ trang Lai Châu

Đồng chí Nguyễn Văn Hiền sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Khi hi sinh đồng chí là thiếu úy, cán bộ đồn 33 công an nhân dân vũ trang Lai Châu, đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Năm 1967, tốt nghiệp phổ thông đồng chí xung phong vào bộ đội, trực tiếp chiến đấu chống Mĩ cứu nước. Được vào lực lượng công an nhân dân vũ trang, đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Khi làm chiến sĩ nuôi quân, làm quản lý, đồng chí Hiền đã thật sự liêm khiết, tận tụy chăm sóc từng bữa ăn cho đơn vị. Được giao làm công tác cơ sở, đồng chí đã nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, hết lòng thương yêu đồng bào các dân tộc, tích cực động viên nhân dân định canh, định cư, cải tiến kĩ thuật, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, xây dựng phong trào bảo vệ trật tự trị an biên giới. Đồng chí là cán bộ gương mẫu mọi mặt, lập được nhiều thành tích trong chiến đấu, bảo vệ tổ quốc.
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân xâm lược Trung Quốc có xe tăng, pháo binh yểm trợ ồ ạt tấn công đồn biên phòng 33 Lai Châu. Nguyễn Văn Hiền đã chỉ huy một phân đội dũng cảm chặn đánh địch ở mũi chính diện. Dưới sự chỉ huy của đồng chí, phân đội đã đẩy lùi được 15 đợt tấn công liên tiếp của địch, diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy 2 xe tăng, riêng đồng chí diệt 40 tên.
Ngày 18 tháng 2 năm 1979, địch tăng quân ồ ạt tấn công, Nguyễn Văn Hiền chỉ huy đơn vị ngoan cường chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch. Bị thương vào tay, đồng chí tự băng bó, tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Lần thứ ba bị thương gãy cả hai chân, đồng chí vẫn không rời vị trí, tiếp tục động viên chiến sĩ phản kích quyết liệt. Địch dùng chiến thuật biển người ào lên hết đợt này đến đợt khác...đạn sắp hết, đồng chí lệnh cho 12 chiến sĩ phá vây rút về tuyến sau tiếp tục chiến đấu, rồi một mình ở lại ghìm chân địch và anh dũng hi sinh.
Nguyễn Văn Hiền được truy tặng một Huân chương chiến công hạng nhất.
Ngày 19 tháng 12 năm 1979, đồng chí Nguyễn Văn Hiền được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam kí truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Anh hùng Trần Ngọc Mật (trích trong cuốn sách Chân dung Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, NXB QDND-NXB Lao Động, tập hai, trang 635)
Năm sinh: 1945
Quê quán: Thọ Xuân - Thanh Hóa
Cấp bậc: Đại Úy - Tiểu đoàn trưởng

Anh hùng Trần Ngọc Mật sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương anh hùng đồng chí là đảng viên, trung úy, trung đội trưởng thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 27 công binh quân khu IV.
Năm 1965, Trần Ngọc Mật cùng đơn vị làm công tác đảm bảo cầu phà trên các bến Nghèo, Già, Phú, Họ, Địa, Lội thuộc tỉnh Quảng Bình nơi địch đánh phá ác liệt suốt đêm ngày, làm cho đơn vị phải bắc đi, làm lại cầu phà nhiều lần. Nhiều đêm, mưa lũ tràn về làm hỏng cầu, xói lở bến vượt. Trần Ngọc Mật cùng anh em lao xuống dòng nước xiết, ngâm mình trong giá rét đề ghìm giữ dây tời và lắp ghép phà. Để đảm bảo cho đơn vị vượt sông cấp tốc, anh cùng một tổ bơi lặn dưới nước sông suốt từ 7h sáng tới chiều, qua lại 15-16 lần trên sông để chằng dây cáp giữa lúc lũ đang lên, làm điểm tựa để kéo phá và đưa người, vũ khí, xe cộ và khí tài qua sông đảm bảo an toàn. Trần Ngọc Mật luôn nêu cao tinh thần gương mẫu xung phong, tận tụy trong công việc, không quản ngại hi sinh, đoàn kết giúp đỡ bạn, cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được anh em yêu mến, cấp trên tín nhiệm.
Đồng chí 4 năm liền là chiến sĩ thi đua và chiến sĩ quyết thắng, đạt danh hiệu " dũng sĩ phá bom" được tặng thưởng một Huân Chương chiến công hạng nhì, năm bảng khen, ba giấy khen.
Ngày 12 tháng 12 năm 1969, Trần Ngọc Mật được nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Anh hùng Lê Xuân Sinh (trích Chân dung anh hùng thời đại Hồ Chí Minh NXB QDND-NXB Lao động, tập hai trang 883)
Năm sinh: 1944
Quê quán: Triệu Sơn-Thanh Hóa
Cấp bậc: Đại Tá
Chức vụ: Chỉ huy trưởng BCH QS Thành phố Thanh Hóa

Anh hùng Lê Xuân Sinh sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn thỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương anh hùng đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 7, trung đoàn 16, phân khu I, mặt trận đông bắc Sài Gòn.
Lê Xuân Sinh đã đánh 42 trận, diệt 125 tên Mỹ ngụy. Trận đánh đầu tiên ở Đắc Long (1965), sau khi dùng bộc phá phá rào, thấy thuận lợi đồng chí dẫn tổ thọc sâu chiếm lô cốt đầu cầu, rồi đánh thẳng vào sở chỉ huy địch, diệt tên đồn trưởng, tạo thuận lợi cho đơn vị làm chủ trận địa. Trận Chà Dơ (1966) là trận đầu đánh Mĩ của đơn vị, trận đánh đang diễn ra thuận lợi thì trung đội trưởng hy sinh, Lê Xuân Sinh lên thay, tiếp tục chỉ huy trung đội chiến đấu, địch phản kích điên cuồng. Mặc dù ba lần bị thương nhưng đồng chí vẫn chỉ huy trận đánh cho đến khi trận đánh kết thúc.
Tháng 11 năm 1967, đơn vị tập kích tiểu đoàn Mĩ ở Gò Sõi. Trời sáng địch phản kích, trung đội mất liên lạc. Lê Xuân Sinh chỉ huy đơn vị chiến đấu giữa vòng vây, dùng hỏa lực, mưu trí đánh lạc hướng địch, tạo thuận lợi cho anh em rút ra, thấy còn đồng đội bị thương nằm lại trận địa, đồng chí bò vào cõng về vị trí tập kết an toàn. Đầu xuân năm 1968, vừa ở bệnh viện về, Lê Xuân Sinh chỉ huy trung đội luồn sâu, tiến công một tiểu đoàn địch ở ngã ba Cây Xoài, mặc dù bị thương, đồng chí vẫn cùng anh em bám trụ trận địa suốt hai ngày liền, đánh bật mọi đợt phản kích của hai tiểu đoàn địch. Bước vào đợt tấn công thứ ba năm 1968, Lê Xuân Sinh chỉ huy đại đội chủ công trong trận khu Trảng, đồng chí trực tiếp dùng B40 phá lô cốt đầu cầu rồi chỉ huy anh em dùng bộc phá phá rào. Bị thương hai lần, Lê Xuân Sinh vẫn chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.
Đồng chí được tặng thưởng hai Huân Chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Lê Xuân Sinh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Chiến sĩ thi đua toàn quốc Nguyễn Ngọc Toán (Trần Thanh)
Năm sinh: 1940
Quê quán: Gia Viễn-Ninh Bình
Cấp bậc: Thiếu tá - chủ nhiệm quân y sư đoàn, phó GĐ TTPC sốt rét, kí sinh trùng Thanh Hóa

Sinh ra ở một vùng quê nghèo tỉnh Ninh Bình (Gia Lập, Gia Viễn), tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội hệ chính qui năm 1965, theo sự phân công của tổ chức, bác sĩ Nguyễn Ngọc Toán về nhận công tác tại trạm vệ sinh phòng dịch Ty Y tế Thanh Hóa, nay là Sở Y tế Thanh Hóa. Năm 1967, theo tiếng gọi của tiền tuyến, anh nhập ngũ lên đường chiến đấu ở chiến trường miền nam.
Sau 20 năm phục vụ trong quân đội, đã từng trải qua nhiều cương vị công tác chủ chốt, năm 1987 anh được chuyển ngành về công tác tại trạm phòng chống sốt rét 9 (nay là trung tâm phòng chống sốt rét và kí sinh trùng Thanh Hóa). Lúc bấy giờ công việc phòng chống sốt rét của tỉnh ta thật gian lao vất vả, đời sống của những cán bộ công tác phòng chống sốt rét cũng hết sức khó khăn, thiếu thốn. Không nề hà so bì tính toán thiệt hơn, anh vui vẻ nhận nhiệm vụ trên mặt trận mới cũng đầy khó khăn thử thách không kém nơi tiền tuyến.
Thấm thoát đã 13 năm trên cương vị phó giám đốc trung tâm phòng chốt sốt rét kí sinh trùng và côn trung, bác sĩ Nguyễn Ngọc Toán đã có những đóng góp to lớn ảnh hưởng sâu sắc, góp phần ngăn chặn, khống chế, tiến tới đẩy lùi dịch bệnh sốt rét ở tỉnh ta. Là phó giám đốc phụ trách chuyên môn, huấn luyện, tuyên truyền nghiên cứu khoa học và trực tiếp chỉ đạo khoa dịch tễ sốt rét của trung tâm, bác sĩ Nguyễn Ngọc Toán đã thường xuyên nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động sáng tạo trong công tác dám nghĩ, dám làm, sâu sát ở cơ sở làng, vùng sâu, vùng xa, nắm chắc tình hình diễn biến dịch bệnh sốt rét ở từng địa phương trong tỉnh để đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời. Anh được chính quyền và nhân dân các địa phương dành cho những tình cảm trìu mến thân thương như người nhà. Huyện ủy, UBND huyện Như xuân ông nhận anh là "công an danh dự của huyện", đồng bào địa phương gọi anh là "Người thầy thuốc của bản làng".
Gương mẫu, nhiệt tình, tận tụy trong công tác, bác sĩ Nguyễn Ngọc Toán còn là người không ngừng học tập và say mê nghiên cứu khoa học. Anh đã trực tiếp tham gia và chỉ đạo nghiên cứu 10 đề tài, trong đó có hai đề tài cấp tỉnh, hai đề tài cấp ngành. Nhiều đề tài có giá trị thiết thực đóng góp về lý luận và thực tiễn trong công tác phòng chống sốt rét của tỉnh Thanh Hóa. Việc làm của anh đã góp phần thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kĩ thuật, của đơn vị. Và đơn vị anh là một trong những đơn vị khá trong toàn ngành được Sở y tế và sở khoa học công nghệ và môi trường ghi nhận. Từ năm 1990 đến năm 1992, mỗi năm toàn tỉnh có hàng nghìn bệnh nhân sốt rét với hàng trăm người chết; đến nay sốt rét đã được khống chế. Từ năm 1993 đến nay toàn tỉnh không còn dịch sốt rét xảy ra, từ năm 1996 đến nay không còn bệnh nhân tử vong do sốt rét...là thành tích đáng ghi nhận của tỉnh ta, trong đó có phần đóng góp đáng kể của bác sĩ Nguyễn Ngọc Toán và cán bộ nhân viên trung tâm. Bác sĩ Nguyễn Ngọc Toán được Bộ y tế tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Năm 1996 anh được dự cuộc gặp mặt "Hai Giỏi" toàn quốc (Giỏi kháng chiến giỏi kiến quốc). Năm 1998 được chủ tịch nước tặng huân chương lao động hạng ba và năm 1999 được bầu là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Năm 2000 được bầu là chiến sĩ thi đua toàn quốc và được chủ tịch nước phong tặng danh hiệu "Thầy thuốc ưu tú". Khiêm tốn, giản dị, mộc mạc, anh tâm sự "Phần thưởng lớn nhất đối với tôi đã góp phần đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân các dân tộc miền núi, đóng góp ổn định vào chính trị xã hội và phát triển kinh tế trong tỉnh".
Những ngày đầu cầm súng
Đại tá: Lê Duy Tý
Năm sinh: 1927
Quê quán: Hoàng Hóa - Thanh Hóa
Cấp bậc: Đại tá
Chức vụ: Phó chủ nhệm chính trị mặt trận 979, QK 9

Tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Tổ quốc lâm nguy, chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sáu mươi năm qua đi, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ của nhân dân ta có biết bao người con của đất Việt hi sinh anh dũng, giành độc lập tự do để tổ quốc Việt Nam có được ngày nay. Những hình ảnh kỉ niệm chiến đấu ở thủ đô, những ngày đầu cuộc kháng chiến vẫn luôn in đậm trong kí ức tôi.

Bọn chỉ huy thực dân Pháp sau khi cho quân lính nổ súng thảm sát đồng bào ta ở phố Hàng Bún, gây sức ép ở cầu Long Biên và một số nơi khác trong thành phố Hà Nội. Ngày 19/12/1946 Bác Hồ kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến" . Nhân dân Hà Nội đã nhanh chóng sơ tán, đường phố không một bóng người, giường tủ, bàn ghế được quẳng ra đường, cây cối được chặt hạ ngổn ngang làm chướng ngại vật để ngăn cản quân giặc. Các tổ tự vệ chiến đấu không ngừng quan sát, trực chiến trên sân thượng các nhà ở ngã ba, ngã tư đường, tiếng súng tiếng lựu đạn vẫn nổ nhiều trong thành phố. Tổ tự vệ chiến đấu của tôi có 15 đồng chí, tuổi đời còn rất trẻ, đồng chí Phan Văn Chương mới 15 tuổi. Anh em mặc đủ các loại quần áo, dây lưng bằng vải, buộc lủng lẳng mấy quả lựu đạn, một túi vải đựng các loại đạn. Tổ tôi được trang bị bốn khẩu súng "mút cơ tôn", ba khẩu súng kíp, một khẩu tiểu liên còn lại là kiếm, mã tấu, súng gỗ lắp búp đa bằng sắt nhọn. Anh Văn là tổ trưởng, chiến đấu được một tuần thì anh hi sinh, tôi là tổ phó kiêm nhóm trưởng bốn người. Tổ có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ từ ngã tư Nhà máy rượu dọc theo phố Lò Đúc xuống đến ô Đông Mác quân Hai Bà Trưng. Từ khi nổ súng, ngày nào tôi cũng cử vài đồng chí bám sát địch ở khu nhà thương Đồn Thủy, nay là viện quân y 108, để nắm tình hình và quấy rối bọn địch. Hai lần tổ tôi cùng với trung đội Vệ Quốc Đoàn chiến đấu quyết liệt gần hai tiếng đồng hồ, đã đẩy lùi bọn giặc tấn công định chiếm giữ ngã tư Nhà máy rượu, Viện thú y rồi đánh xuống chiếm đóng Ô Đông Mác, nhằm ngăn chặn lực lượng ta đột nhập hoặc rút khỏi thành phố. Đồng thời chúng dựa vào đấy để làm bàn đạp tấn công xuống Vĩnh Tuy, hòng mở rộng cuộc chiến xuống phía Nam ngoại thành Hà Nội. Thời gian này tổ chúng tôi bắn chết và làm bị thương bảy tên lính Pháp và lính ngụy, thu được hai súng, gần chục quả lựu đạn. Tổ tôi có hai đồng chí hi sinh, ba đồng chí bị thương. Cuộc chiến đấu của chúng tôi với bọn địch giằng co, dành dật từng ngôi nhà, từng góc phố. Mặc dù anh em chưa quen súng nổ, đạn rít, cái sống cái chết luôn cận kề, hàng ngày bữa no, bữa đói, mưa phùn gió bấc, có khi chỉ phong phanh một bộ quần áo…nhưng ai nấy đều luôn luôn phấn khởi, tự hào được chiến đấu bảo vệ thủ đô Hà Nội – trái tim tổ quốc. Khẩu hiệu “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” và những tin chiến thắng của đơn vị bạn, luôn luôn động viên khích lệ chúng tôi nắm chắc tay súng không quản ngại hi sinh gian khổ, thiếu thốn. Chúng tôi luôn động viên giúp đỡ nhau, chia sẻ cho nhau cái quần tấm áo, từng điếu thuốc, từng ngụm nước, nhường nhau từng viên thuốc…đó là sức mạnh của niềm tin vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bác Hồ muôn vàn kính yêu kháng chiến nhất định thắng lợi.
Sau gần hai tháng chiến đấu quyết liệt ở trong lòng thủ đô. Để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài, chúng tôi được lệnh rút khỏi Hà Nội. Các lực lượng ở phía Nam rút về Vĩnh Tuy, Nam Dư Thượng, Nam Dự Hạ. Đội tự vệ tôi thuộc đại đội 3, trung đoàn thủ đô do đồng chí Lê Trang làm đại đội trưởng được rút trước, tổ chúng tôi đi sau làm “hậu vệ”. Do đêm tối, đường quê nhiều ngõ ngách nên lạc đường. Đến trưa ngày hôm sau vẫn không tìm được đơn vị, có đồng chí hoang mang lo lắng, nhưng số đông chúng tôi vẫn giữ quyết tâm chiến đấu, động viên nhau, rồi xin được nhập vào một đơn vị bạn để tiếp tục chiến đấu ở gần thị trấn Thường Tín. Được một tuần, có tin đơn vị chúng tôi đã hành quân lên Phú Thọ, chúng tôi bàn với nhau giao lại vũ khí cho đơn vị mới, xin đồng chí chỉ huy để được về với đơn vị cũ. Những nơi đi qua như Hà Đông, Sơn Tây, Phú Thọ ở đâu chũng tôi cũng được bà con quý mến đùm bọc cho ăn uống, cho quần áo, cho thuộc sốt rét, bởi chúng tôi vừa gầy gò, vừa ghẻ lở hắc lào, chấy rận như sung, quần áo rách rưới. Nhiều nơi bà con yêu cầu chúng tôi kể chuyện chiến đấu ở Hà Nội. Nghe kể chuyện, có người xuýt xoa nói: “Người Hà Nội giàu có, nhà cao cửa rộng vậy mà họ nghe lời kêu gọi của bác Hồ đi kháng chiến, họ bỏ lại tất cả, chỉ mang theo bộ quần áo ư. Với lòng căm thù giặc Pháp, quyết tâm kháng chiến giành độc lập tự do cho tổ quốc. Còn các cháu là con em Hà Nội, lại ở chiến đấu thật vật vả, trông người nào người nấy thật là thương, nhưng cũng thật xứng đáng là chiến sĩ thủ đô “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.
Trên đường đi tìm đơn vị ở Phú Thọ được vài ngày, không tìm thấy đơn vị, chúng tôi lại đi tiếp lên thị xã Tuyên Quang, hỏi thăm khắp nơi vẫn không tìm thấy đơn vị cũ, ai nấy buồn bã quay lại Trung Hà. Sau những lần bàn bạc, chúng tôi quyết định chia tay. Cuộc chia tay làm ai nấy nước mắt giàn dụa, tay nắm tay nhau mà chẳng nói nên lời, chúng tôi hứa hẹn nhau tiếp tục đi chiến đấu, hẹn sẽ gặp nhau tại thủ đô Hà Nội. Riêng đồng chí Thơ quê ở Phú Thọ quê ở Phú Thọ khóc và nói: “Biết bao giờ chúng ta gặp nhau lại đây”. Rồi đồng chí mở gói quần áo đưa tôi cái quần, đưa cho đồng chí An cái áo, chúng tôi không nhận đồng chí Thơ cứ ấn quần áo vào tay chúng tôi, tao sắp về đến quê, rồi chúng mày còn về Nam Định, Thanh Hóa, đường xa rét mướt như thế, cầm lấy mà mặc. Chúng tôi tay nắm tay nhau lắc lắc, rung rung cảm thấy hơi ấm tình bạn chiến đấu truyền cho nhau. Thật xúc động, chúng tôi muốn nói với nhau nhiều lắm…nhưng không sao nói được, mắt nhìn nhau như nhắc nhở, thầm hứa với nhau tiếp tục đi chiến đấu giữ nước.
Cuộc chia tay của chúng tôi vào buổi sáng cuối mùa xuân năm 1947. Trời hửng nắng, sương mù đang tan dần, mỗi người đi một ngả, đi được một đoạn tôi quay lại nhìn, nhưng những lùm cây đã che khuất bạn tôi, rồi trong lòng hiện lên bao hình ảnh những ngày đã cùng đồng đội chiến đấu ở Hà Nội, những hình ảnh nằm ôm nhau co quắp trong ổ rơm trên đường lên Tuyên Quang…Chân tôi bước lúc nhanh, lúc chậm, ngày này qua ngày khác, rồi tôi cũng về được với gia đình ở Hoằng Phú, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
Hơn một tháng sau, tôi và một số thanh niên trong làng lại lần lượt lên đường nhập ngũ.
Cuộc đời lính từ kháng chiến chống Pháp đến chiến đấu giải phóng miền nam thống nhất tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở CPC, ở đâu và dù ở cương vị nào, tôi vẫn đau đáu nhớ về những ngày đầu cầm súng đánh giặc theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của bác Hồ, nhớ những người đồng đội của tôi kẻ mất người còn…biết bao kỉ niệm thân thương khắc sâu trong kí ức tôi đến suốt cả cuộc đời.
Nhớ ngày đầu vào học khóa V – Trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn
Trịnh Khắc Thuần
Năm sinh: 1927
Quê quán: Vĩnh Lộc - Thanh Hóa
Cấp bậc: Đại Tá
Chức vụ: Chính ủy sư 442, QKIV

Hơn 60 năm chiến đấu và công tác tôi có nhiều kỉ niệm sâu sắc. Ở đây tôi chỉ kể một mẩu chuyện nhỏ khi tôi bắt đầu vào bộ đội. Đó là tôi được vào học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn khóa V.
Đang công tác ở huyện ủy huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tôi được điều động vào Quân đội và được tổ chức đi học Lục quân khóa V (1949). Vừa đến trường, chỉ khoảng 30 phút sau là có sự thay đổi môi trường sống. Trước hết là cạo trọc đầu, được mệnh danh là vệ trọc, kế đó được nhận một bộ quân phục sợi đôi, một thanh tre để đan mũ (theo mẫu), giầy dép chưa có, bát đũa tự tạo, súng gỗ, lựu đạn gỗ tự làm theo sự thống nhất của chỉ huy trung đội. Hai người nhận trung một màn rộng 0,80m (gọi là màn sooc) ngoài ra chưa có gì khác. Riêng thời gian thì khẩn trương, vì khóa V của chúng tôi được mệnh danh là khóa chuẩn bị tổng phản công. Chỉ được phép chuẩn bị mọi mặt, từ doanh trại đến thao trường, bài tập đến tổ chức biên chế, sau một tuần lễ phải học chính khóa. Kỉ niệm trong cả khóa học của chúng tôi rất nhiều. Tôi đã xa trường lục quân đến nay đã 54 năm, mà vẫn nhớ như in là tuần lễ nhanh chóng, tuần lễ mở màn khóa học. Khóa của chúng tôi còn có giáo viên người Nhật, họ rèn ác liệt lắm, trong tuần lễ này nhất cử nhất động đều thống nhất, hầu hết là vừa đi vừa chạy. Chúng tôi thường nói nhỏ với nhau có khi mình còn nhanh hơn con thoi dệt vải. Trong tuần lễ có lần, một ngày đêm báo động 6-7 lần, vừa mắc màn, nằm chưa được 30p lại báo động. Kèn báo động thổi nhiều, lính thành quen. Bình thường chúng tôi được ngủ một đêm rất ít, chưa đặt mình, lính kèn đồng trực sẵn để báo động liên hồi, giục lính nhanh nhanh. Chỉ khổ lính kèn, có khi bị kỉ luật quan vì lính ta tinh nghịch nhét que vào lẫy kèn nên có lần báo động không thành. Chuyện thì dài lắm, nhưng tôi liên hệ bản thân tác dụng rèn luyện cho mình tác phong khẩn trưởng, ngăn nắp gọn gàng, đến nay đã gần 80 tuổi rồi mà vẫn còn thấy có giá trị, càng thấm sâu câu: “Khổ luyện thành tài, chai tay bắn giỏi”.
Về Đầu Trang Go down
http://bomonlichsu.turtle-forum.net
 
Chuyện phố lính (tập kí nhiều tác giả)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» 100% mạng truyền hình cáp chuyển sang công nghệ số trước 2020
» HD chuyển kênh bị mất tín hiệu
» Chuyển màn hình Laptop thành màn hình Tivi
» phần mềm chuyển đổi các loại đuôi Total video converter 3.5 full
» [Giúp đỡ]Hỏi về Cách di chuyển các kênh của đầu thu VTC HD 05

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: TƯ LIỆU - HỒI KÝ - KÝ SỰ :: Tư Liệu - Hồi Ký Việt Nam-
Chuyển đến