http://bomonlicTrang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Latest topics
» Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Ấn Độ (1945-1950)
Tue Jul 13, 2010 11:14 am by

» Sự thành lập Tổ chức ASEAN và quan hệ Việt Nam –ASEAN
Tue May 04, 2010 10:43 pm by

» Bốn “con Rồng” nhỏ xuất hiện ở châu Á từ sau chiến tranh thứ hai (1945)
Tue May 04, 2010 10:41 pm by

» Tình hình khu vực Trung Đông từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến 1991
Tue May 04, 2010 10:40 pm by

» Vì sao thực dân Anh buộc phải công nhận nền độc lập hoàn toàn của Ên Độ. Những thành tựu nổi bật về kinh tế xã hội và ngoại giao của nước Cộng hòa Ên Độ từ năm 1950 đến năm 1991.
Tue May 04, 2010 10:39 pm by

» Nguyên nhân dẫn đến sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu? Nêu những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp?
Tue May 04, 2010 10:36 pm by

» ? Công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 – 1991) đã diễn ra như thế nào? Những nguyên nhân nào dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở Liên Xô?
Tue May 04, 2010 10:34 pm by

» Góp ý kiến
Sun May 02, 2010 7:30 pm by

» Trải qua 20 năm tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc nước ta
Sun Apr 25, 2010 8:31 pm by

» Những thắng lợi về quân sự, chính trị và kinh tế của quân và dân hai miền Nam – Bắc trong thời kì chống “Việt Nam hoá” chiến tranh từ 1969 đến 1973.
Sun Apr 25, 2010 8:29 pm by

» Nội dung của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960)tại Hà Nội .
Sat Apr 17, 2010 9:03 pm by

» Trình bày điều kiện bùng nổ ,diễn biến , kết quả và ý nghĩa của Phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960) ?
Sat Apr 17, 2010 9:02 pm by

» Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp
Sat Apr 17, 2010 9:01 pm by

» Chiến dịch lịch sử Điên Biên Phủ 1954.
Sat Apr 17, 2010 9:01 pm by

» Chiến dịch Biên Giới Thu-đông 1950
Sat Apr 17, 2010 8:59 pm by

September 2017
SunMonTueWedThuFriSat
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
CalendarCalendar
Đồng Hồ

More Goodies @ NackVision
Top posters
nguyentoan (143)
 
fudo85 (45)
 
linhlinh_92 (32)
 
xuanhoa20 (4)
 
Tran Minh Huy (1)
 
Thống Kê
Hiện có 3 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 3 Khách viếng thăm

Không

Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 68 người, vào ngày Tue Aug 08, 2017 2:40 pm
Statistics
Diễn Đàn hiện có 7 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: nhocconluoihoc92

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 225 in 207 subjects

Share | 
 

 BẮC THUỘC THỜI ĐẠI (bằng thơ lục bát)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nguyentoan
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 143
Points : 417
Join date : 20/03/2010
Age : 28
Đến từ : Trường Đại học Cần Thơ

Bài gửiTiêu đề: BẮC THUỘC THỜI ĐẠI (bằng thơ lục bát)   Thu Apr 01, 2010 12:03 pm

Chương I
BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT

1. Chính trị nhà Tây Hán:

Vũ Đế chiếm Đại Việt xong
Đổi Giao Chỉ bộ mà hòng nuốt tươi.
Thái thú, Thứ sử trêu ngươi
Lạc hầu, Lạc tướng, chia người trực phiên.
Thạch Đái đóng phủ Long Yên
Là quan thứ sử trước tiên quận này.
Vương Mãng cướp Hán vào tay
Tích Quang, Đổ Mục thẳng ngay chẳng về.
Đến khi Quang Vũ yên bề
Quang, Mục, Đặng Nhượng theo lề cống sang.

2. Tích Quang và Nhâm Diên:

Thái thú Giao Chỉ: Tích Quang
Khai hóa, dạy nghĩa cho hàng thứ dân.
Nhâm Diên, Thái thú Cửu Chân
Chăm lo khai khẩn, canh tân ruộng đồng.

Chương II
TRƯNG VƯƠNG 徵王 (40-43)

1. Trưng thị khởi binh:

Thời kỳ Bắc thuộc long đong
Thù chồng, khởi nghĩa, Châu Phong lập thề.
Người Giao Chỉ lại cùng về
Ba năm dựng nước theo cờ Nhị Vương.
Tô Định bạo ngược khôn lường
Giết người Giao Chỉ không tường thị phi.
Bắt Thi Sách đem giết đi
Hai Trưng Trắc, Nhị tức thì khởi binh.
Con dòng Lạc tướng Mê Linh
Đuổi quân Tô Định mà bình đất Nam.
Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam
Chẳng bao lâu hạ sáu lăm thành trì.
Xưng vua, lừng lẫy ai bì
Mê Linh đóng phủ, uy nghi một miền.
2. Mã Viện sang đánh Giao Chỉ:

Tân Sửu, Quang Vũ lệnh truyền
Phục Ba Mã Viện, binh liền thẳng dong.
Đoàn Chí cùng với Lưu Long
Phó và thuyền tướng tháp tòng xuất chinh.
Hai bên giáp chiến tử sinh
Hát Môn đẫm máu giấu hình Nữ Vương.
Trung lưu nữ kiệt can trường
Thua cơ Mã Viện, cùng đường nhảy sông.
Sông xanh nước chảy mênh mông
Ghi trang quốc sử muôn dòng tiếc thương.
Hồn thiêng phảng phất trong sương
Hát Giang sông sáng soi gương Hai Bà!
Ba năm một cõi sơn hà
Nghìn năm Bắc thuộc sao mà sánh qua!
Anh thư, lịch sử nước ta
Nữ vương chỉ có Hai Bà, chẳng ai!
Qúy Mão mồng sáu tháng hai
Hương hoa khói tỏa tạc đài ngợi ca!

Chương III

BẮC THUỘC LẦN HAI (43-544)

I. NHÀ ĐÔNG HÁN:

1. Chính trị nhà Đông Hán:

Nhà Đông Hán trị dân ta
Tham tàn, hiếp đáp quả là Khuyển Ưng.
Người Giao Chỉ khổ vô chừng
Tìm vàng dưới biển, lên rừng kiếm châu.

2. Lý Tiến và Lý Cầm:

Nhân tài bị bỏ, còn đâu
Lý Cầm, Lý Tiến cùng nhau khẩn cầu.
Hán Minh Đế ngẫm lời tâu
Thăng quan chức hậu, nễ nhau mấy phần.
Trương Trọng đi sứ cầu thân
Năm phần cứng cỏi, năm phân nhún nhường.
Nhìn người chớ có khinh thường
Nhân tài trí dũng, ai nương tướng ngoài.

3. Sĩ Nhiếp (187- 226):

Người nước Lỗ, đổ mậu tài
Tránh loạn biên tái, nên ngài đến ta.
Đời Hiến Đế, năm thứ ba
Trong Châu giặc giã, xin ra trấn ngoài.


Đình hầu thọ sắc phong rồi
Tướng quân An Viễn đến hồi trị gia.
Lấy điều phép tắc xây nhà
Nhân dân trọng đức tôn là Sĩ Vương.

II. ĐỜI TAM QUỐC (220-265)

1. Nhà Đông Ngô (222-280):

Đông Ngô thế mạnh hùng cường
Nhà Đông Hán đã vào đường thế cô.
Nước Tàu xé lẻ địa đồ
Giao Châu lệ thuộc Đông Ngô Tôn Quyền.
Bính Ngọ, Sĩ Nhiếp quy tiên
Sĩ Huy xưng Thái thú liền thế cha.
Quảng Châu: Hợp Phố trở ra
Giao Châu: Hợp Phố ngược mà trở đi.
Đái Lương cùng bọn Trần Thì
Đem quân đến bắt Sĩ Huy phải hàng.
Anh em năm kẻ liên can
Bị giết bởi tội chịu hàng họ Tôn.
Bấy giờ, Ngô chủ tính khôn
Hai châu Giao, Quảng phải dồn một Châu.
Lữ Đại - Thứ sử đứng đầu
Đem quân lấn chiếm chư hầu Cửu Chân.

2. Triệu Ẩu:

Giao Châu, Giao Chỉ tương phân
Thứ sử Lục Dận muôn phần ác tinh.
Mậu Thìn, Quốc Đạt khởi binh
Quân tôn nữ Triệu Thị Trinh đứng đầu.
Anh em bảo bọc cho nhau
Ai ngờ gặp phải chị dâu chẳng hiền.
Thị Trinh lập tức giết liền
Lên rừng mộ lính, múa quyền, cỡi voi.
Non nhà lửa bỏng, dầu sôi
Anh em Triệu Ẩu song đôi chém Kình.
Anh hùng, nữ tướng kiên trinh
Lục Dận lạc phách, hồn kinh lắm điều.
Theo mây về cõi tiêu diêu
Non sông tạc tiếng: "Nhụy Kiều tướng quân"!
“Tài trinh đệ nhất phu nhân
Bậc chính anh liệt nữ thần” tỉnh Thanh.

3. Nhà Ngô chia đất Giao Châu:

Nhà Ngô chặt cội, đẵng cành
Đem đất Nam Việt chia thành hai Châu.
Quảng Châu cùng với Giao Châu
Quan Tàu Thái thú thay nhau bạo tàn.
Dân gian loạn lạc, mới bàn
Giết quan Thái thú mà hàng Ngụy quân.
Giao Châu mục, có Đào Hoàng
Đầu Ngô, hàng Tấn để còn Giao Châu.

III. NHÀ TẤN (265-420)

1. Chính trị nhà Tấn:

Thiên hạ, nhà Tấn đã thâu
Thương nhà Ngụy mới phong hầu cháu con.
Các thân vương vì sống còn
Thi nhau thủ đoạn chẳng tròn đệ huynh.
Thiên tai tại thượng vô tình
Xưng vương, xưng đế một mình, một sân.
Hơn mười sáu nước tranh phân
Ngũ Hồ loạn lạc muôn dân cực hình.

2. Nước Lâm Ấp quấy nhiễu Giao Châu:

Bên trong chính sự bất bình
Bên ngoài giặc phá, dân tình oán than.
Giặc Lâm Ấp muốn thi gan
Phạm Hùng cướp cạn, quân càn Nhật Nam.
Canh Thân, Tuệ Độ đã làm
Giao Châu Thứ sử diệt Chàm trị yên.
Phạm Hồ Đạt được mấy niên
Bị Chư Nông phản cướp quyền, hỏng xôi!
Khi Phạm Dương Mại chiếm ngôi
Nam Bắc triều đã phân đôi nước Tàu.
Đông Tấn và Tống đánh nhau
Vua Lâm Ấp mới gây sầu Giao Châu.

IV. NAM BẮC TRIỀU (420-588)

1. Tình thế nước Tàu:

Canh Thân, Lưu Dụ mưu sâu
Cướp ngôi Đông Tấn chia nhau Bắc triều.
Giao Châu phụ thuộc Nam triều
Ngụy, Tề, Chu đế gây điều ngoại xâm.

2. Việc đánh Lâm Ấp:
Nói về họ Phạm ngấm ngầm
Ngôi người khác lại rộ rầm cướp đi.
Thấy Tàu nội loạn ra chi
Sai cống nhà Tống muốn vì Giao Châu.
Tống triều nào há chịu đâu
Họ Phạm kia mới hái dâu nhử tằm.
Hòa Chi, Tông Xác đã căm
Mang binh sang đánh, Phạm ngầm chạy mau.
Đàn Hòa Chi vội tóm thâu
Người vàng một tượng, báu châu chật nhà.
Gian tham chẳng đổi thật thà
Vàng kia cái lộng cũng là con dao.
Hòa Chi rớt chức, mất bào
Giao Châu Thứ sử lộn nhào, hỡi ôi!
3. Sự biến loạn ở đất Giao Châu:
Kỷ Mùi, nhà Tống mất ngôi
Nhà Tề kế nghiệp không thôi cướp giành.
Nhà Lương khởi sự máu tanh
Tiêu Tư tàn bạo lòng đành dửng dưng.
Chương IV
NHÀ TIỀN LÝ 前李 (544-602)

1. Lý Nam Đế (544-548):

Giao Châu thóc chín lưng chừng
Thân trâu, kiếp ngựa vang lừng trống khua.
Ngoài biên, giặc Tống hơn thua
Bên trong, Lâm Ấp vào mùa phá ranh.
Bên Tàu, lưỡng thổ phân tranh
Tề vừa phế Tống, Lương thanh toán Tề.
Tham tàn thái thú, người ghê
Hùng tâm, Lý Bí giương cờ diệt gian.
Vạn Xuân thoát cảnh lầm than
"Thái bình thiên đức", xua tan bóng tà.
Bình minh chiếu sáng sơn hà
Thanh bình tự chủ như là đến phiên!
Nghe qua, Lương Đế đảo điên
Xua quân lấn chiếm, Bá Tiên phụng quyền.
Thua đi, thắng lại truân chuyên
Lý Bôn quyết định trao quyền Triệu Vương.
2. Triệu Việt Vương (549-571):

Triệu Việt Vương - Dạ Trạch Vương
Trung kiên dạ tướng, cung thương quật cường.
Thông gia Phật Tử, lầm đường
Nhằm tin rễ phản, nào lường vạ, may!

3. Hậu Lý Nam Đế (571-602):
Tranh ngôi, Phật Tử ra tay
Hậu Lý Nam Đế thua ngay nước Tùy.
Giao Châu hết thịnh thì suy
Ba trăm năm lẻ chịu quỳ Bắc phương!

Chương V
BẮC THUỘC LẦN THỨ BA
(603 - 939)

I. NHÀ TUỲ (589-617)

Việc đánh Lâm Ấp:
Nhà Tùy sai tướng Lưu Phương
Sang đánh Lâm Ấp xem dường ý gian.
Vì đồn Lâm Ấp lắm vàng
Phạm Chí chạy, Phương giữa đàng bệnh... thăng!
Giết người, cướp của nên chăng
Mạng đi thay của họa rằng đã vương.

II. NHÀ ĐƯỜNG (618-907)

1. Chính trị nhà Đường:

Mậu Dần, Tùy mất bởi Đường
Tân Tỵ, Cao Tổ phô trương thế ngoài.
Cắt Đại tổng quản trông coi
Cùng việc cai trị coi mòi ở lâu.
Khâu Hòa quản đất Giao Châu
Ngang tàn, bạo ngược như nhau, một phường!
2. An Nam đô hộ phủ:
Nhà Tùy tiếp đến nhà Đường
Đời nào cũng vẫn coi thường Giao Châu.
Dân ta lệ thuộc vào Tàu
Mười hai mảnh đất chư hầu ngó nhau!

3. MAI HẮC ĐẾ (722)
Nhằm trừ giặc cướp nương dâu
Họ Mai một cõi Hoan Châu đứng đầu.
Nhỏ người, sức khỏe tựa trâu
Thúc Loan mặt mũi, mày râu đen sì!
Xưng vua Hắc Đế gây uy
Đánh nhau nổi tiếng gan lỳ tướng quân!
Anh hùng, thất thế sa chân
Họ Mai kia chốn phong trần, lánh xa.

4. Giặc bể:
Tân Tỵ có quân Đồ Bà
Ngoài bể vào phá với là Côn Lôn.
Ra vào cướp giật cô thôn
Quan Kinh lược đánh, hoảng hồn chạy nhanh.
Trương Bá Nghi xây La thành
Phòng ngừa cướp đánh và canh cướp ngầm.

5. Bố Cái Đại Vương (791):
Họ Quang kia thật là thâm
Làm quan bảo hộ chuyên nhằm vét vơ!
Nhân dân ta, lúc bấy giờ
Sưu cao, nặng thuế hai bờ chẳng cam.
Phùng Hưng vốn ở làng Cam
Vùng lên giết chết quan tham Chính Bình.
“Đại Vương Bố Cái" thâm tình
Thương thay yểu mạng, vô hình thở than.

6. Việc đánh nước Hoàn Lương
Phùng An nhút nhát cầu an
Cha giành độc lập, con hàng giặc Xương!
Nhà Đường đánh nước Hoàn Lương
Giết người Mường, Mán, ăn lường thảm thương!

7. Nam Chiếu cướp phá Giao Châu:
Tư thù, Mán tộc và Mường
Xui người Nam chiếu cướp đường Giao Châu.
Tranh nhau đến loạn xà ngầu
Mười năm đổ máu đi chầu Diêm Vương!

8. 9. Cao Biền bình giặc Nam Chiếu.
Công việc của Cao Biền:
Cao Biền tướng giỏi nhà Đường
Tinh thông sách học, làu thường tướng môn.
Trừ căn, tính quẻ Càn Khôn...
Bình quân Nam Chiếu, huyệt môn yểm trừ.

10. Sự trị loạn của nước Tàu:
Vua mà chính trực công tư
Nhân gian chẳng được khúc từ “Sâm thương”!
Hưng, suy nghĩ cũng là thường
Ta - Tàu nội loạn, sa trường tử thương.

III. ĐỜI NGŨ QÚY (907-959)

1. Tình thế nước Tàu:

Bên Tàu, Ngũ Quý phân vương:
Hậu Đường, Hán, Tấn, hậu Lương, ngũ vùng.
Hậu Chu: năm nước xưng hùng
Để Khúc Thừa Dụ được cùng tấn quan.

2. Họ Khúc dấy nghiệp:

Khúc Thừa Dụ (906-907)
Giao Châu, họ Khúc xây làng
Người giàu tốt bụng, không màng dã tâm.

3. Khúc Hạo (907-917):

Làm quan chỉ độ tròn năm
Trao quyền Khúc Hạo lo chăm nước nhà.

4. Khúc Thừa Mỹ (917-923):

Khúc Thừa Mỹ, nối nghiệp cha
Mất lòng phải vạ, họa nhà: Tù binh!
Khúc cha đại nghĩa thâm tình
Khúc con chính nghĩa thường tình bỏ đi!

5. Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiễn
(931-938)

Lý Khắc Chính ác ai bì
Nên Dương Diên Nghệ mới vì Khúc gia.
Đánh cho Lý Tiến chạy xa
Dạy cho Khắc Chính biết ta, biết mình!
Ai ngờ nội phản, tham sinh
Kiều Công Tiễn lại vong tình, giết đi!
Gian thần, lịch sử còn ghi:
Trong lo thí chúa, ngoài thì loạn tâm.
Ngô Quyền khởi nghiệp Đường Lâm
Căm phường phản chúa, kiên tâm báo thù.
Kiều Công tiếng xấu thiên thu
Tìm đàng cứu viện quân thù: Hán Vương.
Hoằng Tháo: Thái tử Bắc phương
Xâm lăng chẳng thấy con đường hiểm sâu.
Ngô Quyền sai vót nhọn đầu
Đằng Giang đóng cọc chìm sâu xuống dòng.
Gian thần phải tội bên trong
Bạch Đằng Giang sóng đầy chông giết thù.
Ngô Quyền đức trí cương - nhu
Quăng đi cái ách nghìn thu thuộc Tàu.
Danh thơm, tiếng mãi về sau
Non sông gấm vóc nhắc nhau bảo toàn.


Chương VI
KẾT QỦA THỜI BẮC THUỘC

1. Người nước Nam nhiễm văn minh của Tàu:

Theo dòng lịch sử tính toan
Ngàn năm Bắc thuộc gì còn nước ta!
Hay, dở từ ấy mà ra
Luân lý, phong tục ruột rà với nhau.

2. Nho Giáo:

Theo gương "trung hiếu" làm đầu
"Để" "Thử" là gốc, làm câu sửa mình.
Nho gia, lý tưởng anh minh
Luân thường đạo lý thâm tình sử xanh.
Làm người trọng nghĩa, khinh danh
Ai ai cũng thể cây xanh, hiệp hòa.
Tăng, Sâm, Khổng Tử đề ra
Đi qua Khổng Cấp, Mạnh Nha, đạo thành.
Nho gia vất vả trường sanh
Thủy Hoàng đốt sách, máu tanh học trò!
Đời Cao Tổ, đạo thịnh to
Nhà Hán bớt khó nên cho mở trường.
Đạo nào mà có chủ trương:
Lập trường "Nhân-Nghĩa": Đạo đường Việt Nam.

3. Đạo Giáo:

''Vô tri, điềm tỉnh'', trừ tham
Không dùng "trí lực" mà cam khổ mình.
Đạo giáo triết học cao minh.
Tu tâm, trị nước mô hình "trường sinh".
Lý Đan nước Sở phát sinh
Làm dây Tầm gởi qua mình nhà Chu.
Quên chuyện tình, lo ''chuyên tu''
Cho mình "bất tử" mà đu với đời.
Trương Đạo Lăng, quả gặp thời
Tần, Đường, Hán mới tin lời viễn vong.
Đồng hành tiên thuật, hạnh thông
Hoàng Cân Trương Giác, Cát Hồng nối nhau.
Tử - Sinh vốn đã từ lâu
''Trường sinh" ai đã được đâu, phép màu?

4. Phật Giáo:

Đời người đầy ải khổ đau
"Sinh, lão, bệnh, tử'', nỗi sầu biến thiên.
Luân hồi kiếp bởi nhân duyên
Làm sao thoát được ưu phiền thế gian?
Đức Thích Ca đã không màng
Quên thân Thái tử, tìm đàng Phật ngay.
"Niết bàn" khi đã rũ tay
Bất sinh, bất diệt thành thầy Phật gia.
Bà-La-Môn, gốc Thích Ca
Từ Ấn Độ đã đi qua nước Tàu.
Rồi vì "Tông Chỉ" khác nhau.
Nên Phật tích đổi ra màu Phật kinh.
Nhà Đông Hán có Huệ Sinh
Thái Am với Tống Vân tinh Phật đàn.
Vua Đường hạ chiếu Huyền Trang
Đi sang Thiên Trúc, Kinh mang để truyền.
"Tây Du Ký", động địa thiên
Ngô Thừa Ân truyện giải phiền chúng sinh.
Biết bao nhiêu nghĩa với tình
Biết bao câu chữ ẩn hình tử sinh.
Tiền Lê, nhà Lý, nhà Đinh
Thịnh hành đạo Phật; Nho vinh Lý - Trần.
Quốc đạo thống nhất bất phân
Đạo nào cũng đã góp phần đấu tranh!

5. Sự tiến hóa của người nước Nam:

Nho, Phật, Lão phát triển nhanh
Dân ta tín ngưỡng theo thành thói quen.
Cần dùng, cách chống ươn hèn
Tranh đua chẳng phải bon chen cạn cùng.
Ta – Tàu tục lệ như chung
Văn minh nước Việt không sùng bái Tây.
Gì của Tàu, cũng cho hay
Tiến hóa chẳng mấy, loay hoay kém người.
Về Đầu Trang Go down
http://bomonlichsu.turtle-forum.net
 
BẮC THUỘC THỜI ĐẠI (bằng thơ lục bát)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» quay trộm đầu thu kỹ thuật số AVG
» Kỹ thuật số mặt đất có phát Ngoại Hạng Anh
» fw ky thuật số Dunals LTD 686
» Đầu kỹ thuật số mặt dất của VTC
» Mật khẩu bí mật các loại đầu thu Vệ tinh, Kỹ thuật số

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: LỊCH SỬ VIỆT NAM :: Lịch Sử Việt Nam Cổ Trung Đại-
Chuyển đến